Build Human Rights for Montagnards-Pơdơ̆ng Rơngai Ană Čư̆ Čan - Xây Dựng Nhân Quyền cho Người Thượng

bhrm montagnards Pơdơ̆ng Rơngai Ană Čư̆ Čan

Hiển thị các bài đăng có nhãn BHRM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BHRM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Ép dân Đắk Lắk bỏ Hội Thánh "Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên".

 


Những tài liệu được công bố đã phác họa một bức tranh căng thẳng xoay quanh đời sống tôn giáo tại tỉnh Đắk Lắk. Theo nội dung ghi nhận, một số tín hữu thuộc nhóm “Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên” cho biết họ liên tục bị lực lượng công an triệu tập làm việc, kèm theo những áp lực mang tính răn đe. Các cáo buộc đặt ra cho thấy chính quyền địa phương bị cho là yêu cầu họ từ bỏ sinh hoạt trong nhóm này để chuyển sang tham gia Hội thánh Tin Lành Việt Nam (Miền Nam) – tổ chức đã được nhà nước công nhận.
Không dừng lại ở việc vận động hay thuyết phục, nhiều trường hợp được cho là đã phải đối mặt với các biện pháp gây sức ép như xử phạt hành chính, gặp trở ngại trong công việc, thậm chí lo ngại nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Những diễn biến này tạo ra một không khí bất an kéo dài đối với những người có liên quan.
Điều đáng chú ý là, bất chấp các cáo buộc từ phía chính quyền về hoạt động chống đối, nhiều tín hữu vẫn khẳng định họ chỉ đang thực hành niềm tin tôn giáo một cách ôn hòa. Họ tiếp tục giữ vững đức tin của mình và nhấn mạnh quyền tự do tín ngưỡng như một quyền cơ bản của mỗi cá nhân.
Các hồ sơ đi kèm cũng ghi lại chi tiết danh tính của một số cán bộ tham gia thẩm vấn, cùng với những hành vi bị cho là đã vượt quá giới hạn, xâm phạm đến quyền lựa chọn tôn giáo của người dân địa phương. Vụ việc, vì vậy, không chỉ dừng lại ở câu chuyện riêng lẻ, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi lớn hơn về ranh giới giữa quản lý nhà nước và quyền tự do cá nhân trong lĩnh vực tín ngưỡng.




Chính quyền tại tỉnh Đắk Lắk đang gia tăng áp lực đối với Hội Thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên – một tổ chức tôn giáo chưa được công nhận chính thức. Trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra không chỉ là việc hội thánh này có thể tồn tại hay không, mà còn là họ sẽ chịu đựng được đến mức nào trước những sức ép ngày càng mạnh mẽ từ phía chính quyền.
Thực tế cho thấy, tình hình đang rất căng thẳng và mang tính đối đầu rõ rệt. Một mặt, phía chính quyền liên tục đưa ra các cáo buộc rằng tổ chức này có liên hệ với hoạt động chống phá, và đã có những biện pháp xử lý mạnh tay như bắt giữ, kết án hoặc ngăn cản sinh hoạt tôn giáo . Mặt khác, từ phía một số tín đồ và các nguồn độc lập, lại xuất hiện những thông tin cho rằng họ chỉ đang sinh hoạt tôn giáo một cách ôn hòa nhưng bị gây khó khăn, thậm chí bị ép buộc từ bỏ niềm tin .
Điều này phản ánh một thực tế phức tạp: vấn đề không đơn thuần là tôn giáo, mà còn liên quan đến chính trị, dân tộc và an ninh. Khi một tổ chức bị đặt vào “vùng xám” – không được công nhận nhưng vẫn tồn tại – thì xung đột gần như là điều khó tránh khỏi.



Các tài liệu này báo cáo về việc lực lượng công an tại tỉnh Đắk Lắk liên tục triệu tập và đe dọa những tín hữu thuộc nhóm "Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên". Cơ quan chức năng bị cáo buộc ép buộc người dân phải từ bỏ tổ chức tôn giáo này để chuyển sang sinh hoạt tại Hội thánh Tin Lành Việt Nam (Miền Nam) do nhà nước công nhận. Những cá nhân có liên quan đã phải đối mặt với nhiều hình thức răn đe bao gồm phạt hành chính bằng tiền, gây khó khăn trong công việc và nguy cơ bị bỏ tù. Bất chấp những áp lực và cáo buộc về hoạt động chống phá từ phía chính quyền, các nạn nhân vẫn kiên quyết giữ vững đức tin và khẳng định quyền tự do tôn giáo của bản thân. Những hồ sơ này liệt kê chi tiết tên các sĩ quan công an tham gia vào quá trình thẩm vấn cũng như các hành vi xâm phạm quyền lựa chọn tín ngưỡng của công dân địa phương.


 

Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2025

Chính quyền công an tỉnh Kon Tum - chèn ép "cưỡng chế đất đai" người dân barnar (Bana). Công an cho rằng:/ và nói người dân ở không chịu làm" đó là mưu mẹo bịt miệng".

 Ở Đất Nước Việt Nam"lên tướng nào" cũng không thay đổi:/ Đây bài viết Vào ngày 10 tháng 1 năm 2020. 


 Chúng tôi không thể sống nổi với mức bồi thường như vậy. Một sào đất chỉ được tính có hơn trăm ngàn đồng thì làm sao người nông dân tồn tại? Chỉ riêng một năm canh tác, một sào đất đã làm ra biết bao nhiêu tiền, trong khi đất ấy là kế sinh nhai lâu dài của chúng tôi. Nhà nước ơi, Nhà nước Việt Nam ơi, xin hãy cấp đất cho dân làm ăn, đừng tước đoạt đất của dân, bởi mất đất là dân chết đói. Dân chúng tôi là nông dân, không phải công nhân nhà máy, không phải cán bộ ăn lương. Không có đất thì không còn đường sống.

Nếu các anh quyết lấy đất, thì cứ thẳng tay dùng súng đạn, cho quân đội bắn sạch cả làng trong một đêm còn hơn để chúng tôi sống lay lắt, chết dở từng ngày vì mất đất. Cách làm như hiện nay chỉ đẩy người dân vào cảnh sống không ra sống, chết không ra chết. Luật pháp đã nói rất rõ: đất đai là tài sản của người dân, Nhà nước chỉ đứng ra quản lý, chứ không phải là chủ sở hữu tuyệt đối. Đây là đất do ông bà tổ tiên để lại, chúng tôi kế thừa và gìn giữ qua nhiều thế hệ. Tại sao bây giờ lại thu hồi để làm kinh doanh, nhưng lợi ích thì không thuộc về dân, mà dân lại gánh hết thiệt thòi?

Nếu các dự án ấy thực sự vì lợi ích chung của người dân thì không ai phản đối. Nhưng thực tế là hàng loạt lực lượng, từ công an, cán bộ xã, đến đủ ban ngành kéo đến áp tải, cưỡng chế, ép buộc người dân phải chấp nhận. Chúng tôi đã nhiều lần trình bày tâm tư, nguyện vọng qua các buổi tiếp xúc cử tri, tiếp xúc nhân dân, nhưng tất cả đều rơi vào im lặng. Nói là lắng nghe dân, nhưng rồi chẳng giải quyết cho dân được điều gì, chỉ vội vàng thu hồi đất.

Các anh là cán bộ, có lương đều đặn mỗi tháng. Còn chúng tôi làm nông, không có đất thì lấy gì mà sống? Chúng tôi cũng là con người, không phải súc vật. Tài sản này là mồ hôi, công sức của bao thế hệ, không phải của ai khác. Mở đường, xây trường, làm công trình công cộng thì dân còn có thể chấp nhận. Nhưng lấy đất để làm kinh tế mà dân nghèo hơn, đất nước giàu đâu chưa thấy, chỉ thấy dân đói, dân khổ, thì đó là con đường dẫn đến chết mòn.

Bao nhiêu con người đã đổ cả tuổi trẻ, từ lúc thanh niên cho đến khi già nua, bám lấy mảnh đất này mà sống. Giờ đây lại bị xem như kẻ lười lao động, bị tước đi tư liệu sản xuất rồi quay sang trách móc. Đất của chúng tôi, chúng tôi không muốn bán, cũng chưa từng bán. Nếu bán đúng giá thị trường thì chỉ cần vài phút là xong, nhưng giá bồi thường đưa ra thì hoàn toàn không xứng đáng.

Một sào đất mỗi năm có thể mang lại năm chục triệu, thậm chí trúng mùa trúng giá còn hơn trăm triệu. Đất này không phải chỉ làm một năm rồi bỏ, mà là làm cả đời, cho con cháu đời sau. Vậy mà lại định đền bù rẻ mạt, coi như không có giá trị gì. Chúng tôi đã tìm hiểu luật ở nhiều nơi khác, nếu Nhà nước thu hồi thì phải bồi thường đúng giá trị tài sản trên đất, đảm bảo sinh kế cho người dân. Ở đây thì không hề như vậy.

Chúng tôi đã nói thẳng trong các cuộc họp: tài sản của dân mà bị phớt lờ ý kiến, bị cưỡng chế khi chưa thỏa đáng thì chẳng khác nào chiếm đoạt. Người dân không ăn cắp, không ăn trộm của ai, đất này cũng chưa bao giờ là đất riêng của thành phố. Vậy mà giờ đây lại bị đối xử như tội phạm.

Nói người dân phải thay đổi tư duy, phải lao động, đừng bán đất — nhưng lấy hết đất rồi thì lấy gì mà lao động? Trả lời đi, khi đất bị thu hồi hết thì dân còn con đường nào để sống? Người ta về cơ quan thì tai nghe, mắt thấy lúc họp, nhưng quay lưng đi là quên sạch, mặc cho dân tự xoay xở với khổ đau của mình.

Cách làm này không hề xứng đáng, cũng không công bằng. Bồi thường rẻ mạt, cưỡng chế ép buộc, bỏ ngoài tai tiếng kêu cứu của dân. Chúng tôi không đòi hỏi gì hơn ngoài quyền được sống trên chính mảnh đất của tổ tiên mình, được làm ăn lương thiện và nuôi sống gia đình bằng mồ hôi công sức của chính mình.

Tôi không phải là không có quy định hay vô chủ. Đây là tài sản của chúng tôi, các anh không có quyền tự ý can thiệp. Khi thấy sự việc xảy ra, tôi đã chủ động tìm hiểu pháp luật, so sánh với nhiều tỉnh thành khác. Ở những nơi đó, người ta nói rất rõ: có những trường hợp mượn danh nhà nước để làm việc không đúng bản chất. Đất bị thu hồi rồi đem bán cho tư nhân, trong khi việc bồi thường lại không hề tương xứng với tài sản thực tế trên đất của người dân.

Nếu thật sự là vì lợi ích chung thì phải đền bù đúng, đủ, công bằng. Còn ở đây thì không có gì như vậy cả. Tôi đã nói rõ trong các buổi họp: giả sử tôi có con gà, anh có con bò, tôi đề nghị đổi — tôi lấy bò, anh lấy gà — anh có chấp nhận không? Không ai ngu đến mức chấp nhận sự trao đổi bất công như thế. Nhưng tiếng nói của người dân thì lại bị phớt lờ hoàn toàn.

Người ta chỉ biết lo cho lợi ích của mình, tích lũy tiền bạc cho con cháu, còn dân thì bị đẩy vào cảnh bần cùng. Đây không phải là chính sách, mà là hành vi moi móc, chiếm đoạt tài sản của người dân. Gia đình tôi làm lụng bao nhiêu năm mới có được mảnh đất này, cũng như bao gia đình khác. Một sào đất, nếu làm tốt, mỗi năm có thể mang lại 50 triệu, thậm chí hơn 100 triệu khi được mùa được giá. Vậy thì lấy gì để người dân chấp nhận mức bồi thường rẻ mạt?

Đất này không phải chỉ làm một năm rồi bỏ. Đây là đất canh tác cả đời, từ đời cha ông đến đời con cháu. Đất phù sa, đất màu mỡ, là kế sinh nhai lâu dài. Sống kiểu gì mà lại coi chuyện đó là chuyện nhỏ? Dù theo tôn giáo nào, đạo nào cũng dạy phải biết thương người, không được tàn phá tài sản của người khác. Ai cũng mong sống yên ổn, không ai muốn bị dồn ép đến đường cùng.

Người dân bức xúc là điều không tránh khỏi. Có người nói dân chỉ biết nghe mà không biết đấu tranh. Nhưng chúng tôi khác: hôm nay đã khó thì ngày mai càng phải lo xa. Chúng tôi đã nhiều lần trình bày tâm tư, nguyện vọng trong các buổi tiếp xúc, nhưng mọi thứ chỉ dừng lại ở việc “nghe”, rồi sau đó đâu lại vào đó. Không có giải quyết, chỉ có thúc ép thu hồi.

Các anh làm cán bộ thì có lương hàng tháng. Còn chúng tôi làm nông, không có đất thì lấy gì mà sống? Đây là tài sản do ông bà để lại, không phải của ai khác. Pháp luật có quy định thu hồi đất cho quốc phòng, đường sá, trường trạm — chuyện đó chúng tôi hiểu. Nhưng thu hồi để làm kinh tế mà gây bất lợi cho dân thì không thể chấp nhận.

Nếu thực sự vì dân, thì phải làm sao để dân sống được. Còn làm kiểu này thì chỉ khiến dân chết dần chết mòn. Đất là tài sản của dân, nhà nước chỉ đứng ra quản lý chứ không phải là chủ sở hữu tuyệt đối. Lấy đất của dân mà không cho dân con đường sống thì đó là đẩy dân vào ngõ cụt.

Chúng tôi đã nói, đã trình bày, đã chịu đựng rất nhiều lần. Nhưng càng nói thì việc cưỡng chế càng gấp gáp. Không ai chấp nhận việc kiểm đếm hay cưỡng ép khi quyền lợi không được đảm bảo. Đây không phải là chống đối, mà là bảo vệ tài sản hợp pháp và quyền được sống của người dân.

Chúng tôi đã nói đi nói lại rất nhiều lần, nhưng chẳng ai chịu lắng nghe. Nói xong thì họ làm ngơ, coi như không nghe thấy gì. Chúng tôi lên tiếng không phải vì tư thù hay chuyện cá nhân, mà vì cuộc sống, vì miếng ăn, vì áo mặc của cả gia đình, của cả cộng đồng. Không ai trong chúng tôi có thể bình tĩnh nổi khi mệt mỏi chồng chất, khi hàng trăm người kéo tới, toàn là những người hưởng lương nhà nước, áp tải và cưỡng chế chúng tôi như tội phạm.

Mức bồi thường đưa ra thì hoàn toàn không xứng đáng, vậy mà họ vẫn ngang nhiên làm. Thử hỏi, bao nhiêu con người đã đổ mồ hôi nước mắt suốt cả tuổi trẻ, từ khi còn thanh niên cho tới lúc đầu đã bạc, tay đã run, chỉ để giữ mảnh đất ấy. Vậy mà giờ đây, người ta muốn lấy đi từng tấc đất, chẳng khác nào cướp tài sản của dân, rồi sau đó lại quay sang vu cho chúng tôi cái mác “lười lao động”.

Chúng tôi có đất, nhưng chúng tôi không bán. Chưa từng bán và cũng không hề muốn bán. Đất là của gia đình tôi, của ông bà tổ tiên để lại. Thế nhưng rồi họ lại dựng chuyện, nói rằng người dân tộc lười biếng, bán đất ăn hết nên không còn đất sản xuất. Trong khi chính họ là những người đã thu hồi, lấy đi toàn bộ đất đai của chúng tôi.

Trong các tài liệu, sổ tay của các cơ quan, người ta luôn nói rằng đồng bào phải thay đổi tư duy, phải chăm chỉ lao động, đừng bán đất. Nhưng xin hỏi, đất đâu mà lao động, khi đất đã bị lấy hết? Chúng tôi hỏi, nhưng không ai trả lời. Họ chỉ nói cho xong rồi về, giữ lấy vị trí, giữ lấy đồng lương của mình.

Chúng tôi đã tìm hiểu luật pháp, không chỉ ở địa phương này mà ở nhiều nơi khác. Đất đai là tài sản của người dân, nhà nước chỉ đứng ra quản lý chứ không phải muốn lấy lúc nào thì lấy. Nếu thu hồi vì quốc phòng, an ninh, đường sá, trường trạm thì chúng tôi còn có thể chấp nhận. Nhưng ở đây, đất bị lấy để làm kinh tế, để giao cho doanh nghiệp, trong khi người dân thì chịu thiệt đủ đường.

Một sào đất mỗi năm có thể làm ra 50 triệu, thậm chí hơn 100 triệu nếu trúng mùa, được giá. Đó là nguồn sống lâu dài, cho cả đời con, đời cháu. Đất ấy màu mỡ, phù sa, gắn với cuộc sống của chúng tôi mấy chục năm nay. Vậy mà họ mang con số bồi thường vài chục triệu ra đặt lên bàn, bảo chúng tôi chấp nhận. Làm sao chấp nhận được?

Chúng tôi không sống nổi với mức bồi thường đó. Người làm nông nếu không có đất thì coi như hết đường sống. Chúng tôi không phải công nhân, không phải cán bộ ăn lương tháng. Không có đất là không có cơm ăn. Lấy đất của dân tức là đẩy dân vào cảnh chết đói, chết mòn, hôm nay không chết thì ngày mai cũng kiệt quệ.

Chúng tôi đã nhiều lần tiếp xúc, trình bày tâm tư, nguyện vọng, nhưng tất cả đều bị bỏ ngoài tai. Người ta nói xuống dân để lắng nghe, nhưng nghe xong thì chẳng giải quyết gì, chỉ nhanh chóng tiến hành cưỡng chế. Cán bộ thì có lương đều đặn, còn chúng tôi, nếu mất đất, lấy gì mà sống?

Chúng tôi là con người, không phải súc vật. Tài sản này do ông bà để lại, do chính tay chúng tôi gây dựng. Không ai có quyền chà đạp, chiếm đoạt. Nếu việc làm này tiếp diễn, thì không khác gì ép người dân vào con đường cùng: chết dần, chết mòn vì mất đất, mất kế sinh nhai.

Chúng tôi không phản đối phát triển, không chống lại nhà nước. Nhưng phát triển mà để dân đói, dân khổ, dân chết thì đó không phải là phát triển. Đất là sinh kế, là mạng sống của chúng tôi. Lấy đất mà không nghĩ tới đời sống người dân thì đó là điều không thể chấp nhận.

Tôi từng nói rõ trong các buổi làm việc rằng: giả sử tôi có con gà, anh có con bò, tôi đề nghị đổi – tôi lấy bò, anh lấy gà – thì thử hỏi anh có chấp nhận không? Không ai ngu đến mức chấp nhận một sự trao đổi vô lý như vậy. Vậy mà ở đây, người ta lại phớt lờ ý kiến của dân, sống một cách kỳ quặc, chỉ biết lợi ích cho riêng mình.

Những gì đang diễn ra không phải là minh bạch hay vì lợi ích chung, mà là moi móc, là chiếm đoạt tài sản của người dân. Đây là tài sản hợp pháp của dân, dân không đồng ý thì không ai có quyền lấy. Gia đình tôi và bao gia đình khác đã làm lụng đàng hoàng, một năm một sào đất có thể thu về 50 triệu đồng, nếu được mùa được giá còn hơn 100 triệu. Đất không phải chỉ để làm một năm rồi bỏ, mà là sinh kế lâu dài, là đất ông bà để lại cho con cháu, cả đời người, cả nhiều thế hệ.

Đó là đất phù sa, đất màu mỡ, gắn với cuộc sống của người dân bao chục năm nay. Không thể nào lấy kiểu áp đặt, cưỡng chế rồi gọi đó là đúng luật. Dù theo đạo nào thì cũng phải có lòng nhân, phải biết thương người, không thể đập phá hay tước đoạt tài sản của người khác. Ai rồi cũng mong được sống yên ổn, không bị dồn vào cảnh khốn cùng.

Người dân không phải không biết suy nghĩ. Có người chỉ biết hôm nay, nhưng chúng tôi thì phải lo cho ngày mai, ngày mốt, cho con cháu sau này. Khi dự án được đưa ra, người ta viện dẫn luật để áp đặt, trong khi chúng tôi không hề ăn cắp, ăn trộm của ai. Đất này không phải tự nhiên mà có, đây là đất tổ tiên để lại, Nhà nước chỉ quản lý chứ không phải sở hữu để muốn lấy lúc nào thì lấy.

Nếu thu hồi đất để làm công trình phục vụ cộng đồng, mang lại lợi ích thực sự cho dân thì dân sẵn sàng chấp nhận. Nhưng ở đây là thu hồi để làm kinh tế, mang lợi ích cho một nhóm, còn người dân thì chịu thiệt. Các ban ngành kéo nhau đi cưỡng chế, áp tải, bồi thường không tương xứng, dân phản ánh thì bị phớt lờ.

Chúng tôi đã nhiều lần tiếp xúc, trình bày tâm tư, nguyện vọng, nhưng không được giải quyết. Nói là xuống dân để lắng nghe, nhưng thực tế chỉ là hình thức, rồi nhanh chóng lấy đất. Trong khi cán bộ có lương hằng tháng, còn người dân làm nông, nếu không có đất thì lấy gì mà sống?

Chúng tôi không phải súc vật, không phải không hiểu biết. Đây là tài sản của chúng tôi, do ông bà để lại. Mở đường, làm trường, làm trạm thì dân có thể hiểu, nhưng lấy đất làm kinh doanh khiến dân mất sinh kế thì đó là đẩy dân vào chỗ chết dần, chết mòn.

Giá bồi thường đưa ra hoàn toàn không phản ánh giá trị thực tế. Nếu bán theo giá thị trường thì người dân đã bán từ lâu, không ai giữ đất đến mức này. Giá đất giảm chỉ là do thời điểm khó khăn, không thể vin vào đó để ép dân.

Người dân không hề lười lao động. Có đất thì mới lao động được. Lấy hết đất rồi lại nói dân không chịu làm ăn thì đó là vô lý. Trong các văn bản vẫn kêu gọi người dân mở rộng tầm nhìn, không bán đất, chăm chỉ lao động, nhưng khi đất bị thu hồi hết thì lao động bằng gì?

Chúng tôi đã tìm hiểu các quy định ở nhiều nơi. Nếu Nhà nước thu hồi rồi giao cho tư nhân thì phải bồi thường đúng, đủ cả đất lẫn tài sản trên đất. Đằng này không làm như vậy mà vẫn cưỡng chế.

Chúng tôi không chống đối vô cớ. Chúng tôi chỉ yêu cầu được tôn trọng, được đối xử công bằng, được bảo vệ tài sản hợp pháp của mình. Nếu cứ làm như hiện nay, thì đó không còn là quản lý nữa, mà là chiếm đoạt, là đẩy người dân vào đường cùng.



Tại Lào Cai:/sự bóp méo thông tin khiến người H"Mông bức xúc

 Tại Lào Cai:/sự bóp méo thông tin khiến người H"Mông bức xúc. 


 Chúng tôi đề nghị phía cơ quan báo chí dừng việc đăng tải và lan truyền các bài viết trên mạng xã hội, bởi nội dung phản ánh không đúng với thực tế. Người dân chúng tôi đã bị thu hồi hơn 50 héc-ta đất nhưng điều này hoàn toàn không được đề cập. Từ năm 2016 cho đến nay, chính quyền vẫn chưa có giải pháp giải quyết thỏa đáng, khiến hơn 20 hộ dân chịu thiệt hại nặng nề, mất đất sản xuất và không thể canh tác trong thời gian dài.

Trong khi đó, phía báo chí chỉ tập trung nói đến thiệt hại về uy tín và tài sản của Nhà nước, mà bỏ qua những mất mát thực tế của người dân. Vì vậy, chúng tôi yêu cầu chấm dứt việc đăng tải các bài viết sai lệch. Nếu tình trạng này tiếp diễn, chúng tôi sẽ gửi đơn khiếu nại lên cơ quan biên tập có thẩm quyền.

Những người dân tại Lào Cai là những người trực tiếp chứng kiến hậu quả của việc thông tin bị bóp méo. Câu chuyện này không đơn thuần là vấn đề của một địa phương, mà phản ánh một thực trạng rộng lớn hơn trong xã hội hiện đại, liên quan trực tiếp đến quyền lợi và sự công bằng.

Khi thông tin bị cắt xén hoặc định hướng sai lệch, tiếng nói của những cộng đồng yếu thế rất dễ bị che khuất. Cần nhìn nhận sâu hơn những tác động tiêu cực của sự thiếu minh bạch này, từ đời sống thường nhật của người dân cho đến trách nhiệm của chính quyền và vai trò của truyền thông trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ.

Theo các nguyên tắc đưa tin và báo cáo, thông tin cần được phản ánh chính xác, đầy đủ và đúng bối cảnh, không được bóp méo theo bất kỳ chiều hướng nào. Việc đưa tin sai sự thật có thể dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng và lâu dài.

Vào tháng 12 năm 2025, cộng đồng dân tộc thiểu số tại tỉnh Lào Cai đã bày tỏ mối lo ngại sâu sắc trước việc thông tin từ trung ương bị cho là không phản ánh đúng tình hình sinh sống và lao động của họ. Hơn 50 héc-ta đất – vốn là yếu tố cốt lõi gắn liền với đời sống và văn hóa cộng đồng – đã bị xâm chiếm nhưng không được nhắc đến.

Hệ quả trực tiếp là hơn 20 hộ gia đình mất tư liệu sản xuất, không còn đất để canh tác và duy trì sinh kế, khiến tình trạng nghèo đói kéo dài suốt từ năm 2016 đến nay. Nhiều người buộc phải từ bỏ nghề nông truyền thống, rời quê lên các đô thị lớn mưu sinh nhưng vẫn không thoát khỏi vòng xoáy khó khăn.

Trong suốt thời gian đó, chính quyền không đưa ra biện pháp giải quyết thỏa đáng. Truyền thông lại chỉ phản ánh các thiệt hại do thiên tai, mà không lắng nghe hay phản ánh đầy đủ nỗi khổ thực sự của người dân.

Sự thiếu sót này không chỉ làm gia tăng bất mãn trong cộng đồng, mà còn đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về tính minh bạch và trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi của các cộng đồng thiểu số trong bối cảnh xã hội hiện nay.

Những hệ lụy từ việc thiếu thông tin chính xác đang hiện hữu rõ ràng trong đời sống của người dân, cho thấy tính cấp thiết của việc thay đổi cách tiếp cận thông tin từ cả báo chí lẫn chính quyền. Đây không phải là trách nhiệm của riêng một cá nhân hay tổ chức nào, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội nhằm bảo đảm sự công bằng cho tất cả mọi người.



Thứ Năm, 25 tháng 12, 2025

Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên"

 Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" 


Đức tin được nhìn nhận như một hình thức phản kháng, một cuộc đấu tranh nhằm giành lấy quyền tự chủ cho Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" . Niềm tin ấy cho rằng đức tin cần đứng cao hơn quyền lực của nhà nước, đóng vai trò như ngọn hải đăng dẫn lối cho những ai trân quý tự do.

Thế nhưng, lý tưởng vốn soi sáng đời sống tinh thần ấy lại thường xuyên va chạm với thực tế khắc nghiệt, đặc biệt trong bối cảnh của Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" tại Việt Nam. Trong khi tại Hoa Kỳ, Tổng thống Trump từng thể hiện lập trường mạnh mẽ ủng hộ việc đặt đức tin lên hàng đầu trong thờ phượng, thì ở Việt Nam, tự do tôn giáo lại bị gắn chặt với những cơ chế kiểm soát và các biện pháp mang tính đàn áp, nhằm dập tắt mọi biểu hiện bất đồng. 

Câu chuyện này không chỉ phản ánh những trở ngại mà một cộng đồng tôn giáo cụ thể đang phải đối mặt, mà còn phơi bày một cuộc xung đột xã hội sâu rộng hơn – cuộc đối đầu dai dẳng với chủ nghĩa độc đoán. Trong quá trình tìm hiểu về Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" , chúng ta bắt gặp nhiều câu chuyện truyền cảm hứng về sự bền bỉ, cũng như những thách thức vượt ra ngoài ranh giới địa lý và chính trị. 

Tất cả những điều đó buộc chúng ta phải nhìn lại cách mình định nghĩa tự do và quyền tự chủ tinh thần. Lời kêu gọi không tôn thờ chính quyền mà hướng về đức tin từng được Tổng thống Donald Trump nhấn mạnh đã tạo nên sự cộng hưởng sâu sắc trong lòng những người đề cao tự do cá nhân và tự do tôn giáo. 

Lập trường ấy thể hiện một quan điểm triết lý rõ ràng: đặt niềm tin lên trên quyền lực nhà nước, đồng thời nhắc nhở về những quyền căn bản mà nhiều con người trên thế giới vẫn đang kiên trì bảo vệ. Trái ngược hoàn toàn, chính quyền tại Hà Nội lại áp đặt hàng loạt hạn chế nghiêm ngặt đối với sinh hoạt tôn giáo, đặc biệt nhắm vào các nhóm như Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" . 

Các cộng đồng này bị buộc phải tuân thủ những quy định hành chính mâu thuẫn trực tiếp với giáo lý và thực hành cốt lõi của họ. Những biện pháp đàn áp ấy không chỉ bóp nghẹt quyền biểu đạt cá nhân, mà còn làm xói mòn đời sống tinh thần phong phú – yếu tố từng nuôi dưỡng sự gắn kết và sức bền cộng đồng trong lịch sử của nhiều người Việt. 

Dù vậy, các tuyên bố chính thức từ phía chính quyền vẫn liên tục khẳng định cam kết bảo đảm tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Tuy nhiên, những lời khẳng định đó lại hoàn toàn đối nghịch với ngày càng nhiều bằng chứng về các hành vi vi phạm và đàn áp mà các cộng đồng tín ngưỡng khác nhau đang phải gánh chịu. 

Chính sự mâu thuẫn này khiến những phát ngôn mang tính trấn an từ phía nhà nước thường bị xem là một trong những nghịch lý lớn của thời đại: công khai nói về tự do, trong khi âm thầm kiểm soát những niềm tin định hình đời sống con người.

Sau cùng, cuộc đấu tranh bền bỉ của Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" trước sự áp bức độc đoán đã đặt ra một câu hỏi căn bản: tự do thực sự là gì. Dù trên bề mặt, các nhà lãnh đạo có thể bày tỏ sự ủng hộ đối với tự do tín ngưỡng, thì những rào cản khắt khe áp lên người thực hành đức tin đã phơi bày rõ khoảng cách giữa lời nói và thực tiễn.

Câu chuyện của Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" không chỉ là minh chứng cho sự kiên cường, mà còn là lời kêu gọi khẩn thiết về tinh thần đoàn kết và hành động trước bất công, thôi thúc mỗi chúng ta cùng bảo vệ những quyền bất khả xâm phạm – nền tảng chung của nhân loại.





 

Thứ Năm, 1 tháng 4, 2021

Công an không Tôn trọng

 

Công an luôn luôn làm thế nay liên tục, ai chịu nổi chứ ?







Thứ Năm, 27 tháng 8, 2020

Ksor Y Pom (ama Liêng)

 

Đàn áp Hội Thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên tại Phú yên

Hội Thánh Đấng Christ Bị Đàn Áp.

Ksor Y Pom (ama Liêng)



                                                                                                


Thứ Tư, 15 tháng 1, 2020

BHRM

BHRM        
Build Human Rights for Montagnards .Gây Dựng Nhân Quyền.

I. Montagnards and religion Montagnards  tôn giáo.

The most popular major  religion  of Montagnards in the Central Highland VN  .
especially in 5 provinces.
Montagnards have different communities like:
Jrai, Eđe, Banar, Mnong, K-ho ...
80% of Montagnards from 3 communities of Jrai, Ede,
  Mnong follows Protestantism.
 Người dân Montagnards   đều có  tôn giáo
 Gồm  ở 5 tỉnh TN.
Người montagnards có các cộng đồng khác nhau như:
80% người Montagnards  từ 3 cộng động  Jrai, Eđe,
Jrai, Eđe, Banar ,Mnông , K-ho …
 Mnông  theo đạo Tin Lành .










II.-  Direction Human Rights  For Montagnards
         Hướng Đi Nhân Quyền  Cho  Montagnards
.
Montagnards Religious Human Rights Working Group.
Establishment and organization of human rights sharing for the people of Montagnards.
Freedom to practice human rights Religious beliefs.
Nhóm hoạt động Nhân Quyền  tôn giáo Montagnards  .
Thành lập ,tổ chức  chia  sẻ nhân quyền cho người dân  Montagnards TN .
Được tự do thực hành nhân quyền Niềm Tin tôn Giáo.

IIIThe  Problem of the Montagnard religion.III. Vấn Nạn Chính  tôn giáo của Người Montagnars.

  1. -Montagnards are not yet aware of Religion  Human Rights.
  2. The Church is small and operates without any systematic expertise
  3. Because there is a social distinction against the Montagnards community.
  4. -Người  Montagnards  chưa nhận thức được Nhân quyền Tôn Giáo Hội Thánh nhỏ và tổ chức hoạt động  chưa có chuyên môn hệ thống
  5. Do  Hội còn   sự phân biệt  đối với cộng đồng người Montagnards.

IV. Giải Quyết Vấn Nạn

Tăng nhận  thức về quyền của  người dân Montagnards  .
Tăng sự hiểu biết của quốc tế về tình trạng của người Montagnards .
Tăng sự quan tâm và can thiệp của quốc tế .
Tăng sự làm việc có tổ chức và hệ thống của từng hội thánh .
Tăng sự cảm thông và kết hợp trong nội bộ cộng đồng tôn giáo
Tăng khả năng tương trợ và bảo vệ lẫn nhau
Tăng sự tuân thủ của chế độ đối với các cam kết nhân quyền với quốc tế.
Giảm các biện pháp chuyên chế và bạo lực để ngăn cản người Montagnards  thực hành tôn giáo .BHRM