Build Human Rights for Montagnards-Pơdơ̆ng Rơngai Ană Čư̆ Čan - Xây Dựng Nhân Quyền cho Người Thượng

bhrm montagnards Pơdơ̆ng Rơngai Ană Čư̆ Čan

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

Sau lớp vỏ “hiệp sĩ cứu người”: Sự thật về Nguyễn Thanh Hải.

 

Nguyễn Thanh Hải – người tự dựng hình ảnh “hiệp sĩ cứu người” trên mạng và những cáo buộc cưỡng đoạt, móc nối, hứa hẹn đưa nạn nhân từ Campuchia về Việt Nam.


 

Nguyễn Thanh Hải, từng được rêu rao là "giải cứu toàn cầu" từ Campuchia ra thế giới, và tuyên bố thưởng $100.000$ cho bất kỳ ai đưa ra bằng chứng Hải lấy tiền của nạn nhân. Nhưng bộ mặt thật của danh xưng "hiệp sĩ đường phố" ngày hôm nay đã bị lộ khi tên này vừa bị Công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt giữ cùng 40 đối tượng khác.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố cũng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can với 5 tội danh là:

  • Cưỡng đoạt tài sản.

  • Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

  • Mua bán người.

  • Tổ chức môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép.

  • Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Chuyên án này cũng đã giúp giải cứu hàng chục nạn nhân từ Campuchia đưa về Việt Nam.

Phương thức hoạt động của đường dây xuất nhập cảnh trái phép

Trước đó, Công an Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện đường dây tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Campuchia do đối tượng Lê Văn Thành cầm đầu. Thành lập nhóm trên mạng xã hội với nhiều tài xế xe ô tô, nhận chở người từ Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận đến khu vực cửa khẩu Mộc Bài, Tây Ninh hoặc khách sạn làm điểm trung chuyển. Sau đó, các đối tượng sử dụng xe ôm theo đường mòn, lối mở, tiểu ngạch biên giới để đưa người sang Campuchia.

Bước đầu xác định chỉ tính từ tháng 10 năm 2024 đến khi bị phát hiện, đường dây này đã tổ chức cho khoảng 900 người xuất cảnh trái phép từ Việt Nam sang Campuchia và khoảng 800 người nhập cảnh trái phép từ Campuchia về Việt Nam, thu lợi bất chính hàng trăm triệu đồng.

Hành vi phạm tội của Nguyễn Thanh Hải (Hải "Hiệp sĩ")

Mở rộng điều tra, Ban chuyên án phát hiện nhóm đối tượng do Nguyễn Thanh Hải (Hải "Hiệp sĩ") cầm đầu, đã lợi dụng danh nghĩa hỗ trợ người dân, giải cứu người Việt Nam bị giam giữ tại Campuchia để thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản và tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép.

Cơ quan điều tra xác định từ năm 2023 đến khi bị phát hiện, nhóm Nguyễn Thanh Hải đã cưỡng đoạt tài sản của 120 người, tổng số tiền chiếm đoạt hơn $16,7$ tỷ đồng. Trong đó, Nguyễn Thanh Hải hưởng lợi hơn $2,2$ tỷ đồng.

Lời khai của một nạn nhân: "Có lần người ta nhờ tôi là nói bên công ty đầu tổng là 50 triệu. Thì 50 triệu một người, tôi nhờ Đức Nhi. Đức Nhi nó nói là để nhờ cảnh sát Hoàng gia Campuchia vô. Nhờ cảnh sát Hoàng gia Campuchia vô thì từ 160 cho đến 216 triệu là nó sẽ đưa về Việt Nam, đưa về tới nhà tôi luôn".

Đối tượng Huỳnh Cao Cường và các đồng phạm khác

Không chỉ Nguyễn Thanh Hải, một đối tượng khác cũng núp bóng dưới danh nghĩa "hiệp sĩ" để lừa đảo, trục lợi đó là Huỳnh Cao Cường. Lợi dụng mạng xã hội để xây dựng hình ảnh một người chuyên cứu giúp những nạn nhân bị lừa sang Campuchia thông qua tài khoản TikTok và Facebook mang tên "Huỳnh Cao Cường - Đức năng thắng số", Cường thường xuyên đăng tải các video clip dàn dựng cảnh giải cứu nghẹt thở nhằm lấy lòng tin từ những gia đình đang có người thân bị kẹt tại các sào huyệt lừa đảo.

Cường chỉ đạo các đàn em thuê xe ôm lên khu vực biên giới Mộc Bài, Tây Ninh để đón người theo các đường mòn, lối mở, đường tiểu ngạch. Sau khi vượt biên trái phép thành công, các nạn nhân được đưa về Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Cường chỉ bàn giao người khi người nhà đã chi đủ tiền. Tại cơ quan công an, Huỳnh Cao Cường khai nhận từ năm 2023 đến khi bị bắt đã thực hiện chót lọt khoảng 30 vụ giải cứu với phương thức tương tự, thu lợi bất chính số tiền cực lớn.

Trong quá trình mở rộng điều tra, Phòng Cảnh sát hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp Cục Cảnh sát hình sự Bộ Công an, cơ quan đại diện Bộ Công an Việt Nam tại Campuchia và Tổng cục Công an Quốc gia Campuchia tổ chức truy bắt, giải cứu 38 công dân Việt Nam tại Campuchia.










































Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

Nội dung cuộc hội thoại

 

Nội dung cuộc hội thoại.

Người dẫn chương trình (Anh Trọng): Vâng, thân chào Mục sư. Xin Mục sư giới thiệu về mình ạ.

Mục sư Aga: Dạ vâng, xin chào anh Trọng và tôi xin giới thiệu, tôi tên là Aga, Mục sư Tin lành Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên. Hiện tại tôi đang sống tại North Carolina, Hoa Kỳ.

Anh Trọng: Vâng, thưa Mục sư, hôm nay Mục sư thăm văn phòng của Nghị sĩ Weston thì Mục sư chia sẻ điều gì với văn phòng này ạ?

Mục sư Aga: Dạ vâng thưa anh Trọng và thưa quý vị, tôi đã thăm văn phòng và đã chia sẻ về vấn nạn của vấn đề tự do tôn giáo hay niềm tin ở tại Tây Nguyên, Việt Nam. Đặc biệt là Hội thánh Tin lành Đấng Christ của chúng tôi bị chính quyền đàn áp, bắt bớ, nhũng nhiễu và bắt ép anh em chúng tôi từ bỏ Hội thánh Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên. Họ bắt ép anh em chúng tôi đi gia nhập với Hội thánh Tin lành quốc doanh mà thuộc về nhà nước công nhận.

Ngoài đó, khi mà họ đã bắt ép không được thì họ đã bắt bỏ tù những nhà truyền đạo giống như là thầy truyền đạo Y Krếc Byă và Nay Y Blang. Họ đã kết án như cách đây khoảng 3 tuần, đã xét xử mà không có luật sư bào chữa thì kết án ông Nay Y Blang 4 năm 6 tháng tù. Còn Y Krếc thì họ kết án có thể lên tới đến 15 năm.

Chúng tôi không làm điều gì vi phạm ngoài vấn đề niềm tin tôn giáo của chúng tôi. Chính vì đây là chúng tôi đang đi vận động các dân biểu tại Quốc hội Hoa Kỳ để cho Chính phủ Hoa Kỳ gây áp lực với Chính phủ Việt Nam để trả tự do cho thầy truyền đạo Nay Y Blang và thầy Y Krếc Byă. Cũng như để cho người dân bản địa của chúng tôi có những quyền tự do bày tỏ niềm tin tôn giáo riêng của mình.

Chúng tôi cũng đang hành động theo đúng phù hợp với luật pháp của Việt Nam, luật tín ngưỡng của Việt Nam. Nhưng chính quyền Việt Nam họ không bao giờ cho chúng tôi có cái niềm tin tự do ấy. Chính vì đây là cơ hội mà chúng tôi đang vận động và lên tiếng để Chính phủ Hoa Kỳ có thể can thiệp và giúp đỡ cho người dân chúng tôi.

Anh Trọng: Vâng thưa Mục sư, Mục sư vừa bước ra khỏi văn phòng của Nghị sĩ Weston thì họ đã hứa gì với phái đoàn của Mục sư ạ?

Mục sư Aga: Dạ, họ rất là chú tâm lắng nghe những gì tôi đã chia sẻ, trình bày cho họ. Và họ sẽ sẵn sàng để mà làm việc với chính phủ để hỏi kỹ cái vấn đề này.

Anh Trọng: Vâng, và trong ngày hôm nay Mục sư có lẽ còn đi thăm một vài văn phòng nữa phải không ạ?

Mục sư Aga: Dạ vâng thưa anh Trọng, còn nhiều, thăm các văn phòng khác nữa cũng để trình bày cái vấn nạn về niềm tin tự do tôn giáo của chúng tôi.

Anh Trọng: Cảm ơn Mục sư ạ.

Mục sư Aga: Dạ vâng, xin cảm ơn anh Trọng, dạ xin chào.




Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2025

Chính quyền công an tỉnh Kon Tum - chèn ép "cưỡng chế đất đai" người dân barnar (Bana). Công an cho rằng:/ và nói người dân ở không chịu làm" đó là mưu mẹo bịt miệng".

 Ở Đất Nước Việt Nam"lên tướng nào" cũng không thay đổi:/ Đây bài viết Vào ngày 10 tháng 1 năm 2020. 


 Chúng tôi không thể sống nổi với mức bồi thường như vậy. Một sào đất chỉ được tính có hơn trăm ngàn đồng thì làm sao người nông dân tồn tại? Chỉ riêng một năm canh tác, một sào đất đã làm ra biết bao nhiêu tiền, trong khi đất ấy là kế sinh nhai lâu dài của chúng tôi. Nhà nước ơi, Nhà nước Việt Nam ơi, xin hãy cấp đất cho dân làm ăn, đừng tước đoạt đất của dân, bởi mất đất là dân chết đói. Dân chúng tôi là nông dân, không phải công nhân nhà máy, không phải cán bộ ăn lương. Không có đất thì không còn đường sống.

Nếu các anh quyết lấy đất, thì cứ thẳng tay dùng súng đạn, cho quân đội bắn sạch cả làng trong một đêm còn hơn để chúng tôi sống lay lắt, chết dở từng ngày vì mất đất. Cách làm như hiện nay chỉ đẩy người dân vào cảnh sống không ra sống, chết không ra chết. Luật pháp đã nói rất rõ: đất đai là tài sản của người dân, Nhà nước chỉ đứng ra quản lý, chứ không phải là chủ sở hữu tuyệt đối. Đây là đất do ông bà tổ tiên để lại, chúng tôi kế thừa và gìn giữ qua nhiều thế hệ. Tại sao bây giờ lại thu hồi để làm kinh doanh, nhưng lợi ích thì không thuộc về dân, mà dân lại gánh hết thiệt thòi?

Nếu các dự án ấy thực sự vì lợi ích chung của người dân thì không ai phản đối. Nhưng thực tế là hàng loạt lực lượng, từ công an, cán bộ xã, đến đủ ban ngành kéo đến áp tải, cưỡng chế, ép buộc người dân phải chấp nhận. Chúng tôi đã nhiều lần trình bày tâm tư, nguyện vọng qua các buổi tiếp xúc cử tri, tiếp xúc nhân dân, nhưng tất cả đều rơi vào im lặng. Nói là lắng nghe dân, nhưng rồi chẳng giải quyết cho dân được điều gì, chỉ vội vàng thu hồi đất.

Các anh là cán bộ, có lương đều đặn mỗi tháng. Còn chúng tôi làm nông, không có đất thì lấy gì mà sống? Chúng tôi cũng là con người, không phải súc vật. Tài sản này là mồ hôi, công sức của bao thế hệ, không phải của ai khác. Mở đường, xây trường, làm công trình công cộng thì dân còn có thể chấp nhận. Nhưng lấy đất để làm kinh tế mà dân nghèo hơn, đất nước giàu đâu chưa thấy, chỉ thấy dân đói, dân khổ, thì đó là con đường dẫn đến chết mòn.

Bao nhiêu con người đã đổ cả tuổi trẻ, từ lúc thanh niên cho đến khi già nua, bám lấy mảnh đất này mà sống. Giờ đây lại bị xem như kẻ lười lao động, bị tước đi tư liệu sản xuất rồi quay sang trách móc. Đất của chúng tôi, chúng tôi không muốn bán, cũng chưa từng bán. Nếu bán đúng giá thị trường thì chỉ cần vài phút là xong, nhưng giá bồi thường đưa ra thì hoàn toàn không xứng đáng.

Một sào đất mỗi năm có thể mang lại năm chục triệu, thậm chí trúng mùa trúng giá còn hơn trăm triệu. Đất này không phải chỉ làm một năm rồi bỏ, mà là làm cả đời, cho con cháu đời sau. Vậy mà lại định đền bù rẻ mạt, coi như không có giá trị gì. Chúng tôi đã tìm hiểu luật ở nhiều nơi khác, nếu Nhà nước thu hồi thì phải bồi thường đúng giá trị tài sản trên đất, đảm bảo sinh kế cho người dân. Ở đây thì không hề như vậy.

Chúng tôi đã nói thẳng trong các cuộc họp: tài sản của dân mà bị phớt lờ ý kiến, bị cưỡng chế khi chưa thỏa đáng thì chẳng khác nào chiếm đoạt. Người dân không ăn cắp, không ăn trộm của ai, đất này cũng chưa bao giờ là đất riêng của thành phố. Vậy mà giờ đây lại bị đối xử như tội phạm.

Nói người dân phải thay đổi tư duy, phải lao động, đừng bán đất — nhưng lấy hết đất rồi thì lấy gì mà lao động? Trả lời đi, khi đất bị thu hồi hết thì dân còn con đường nào để sống? Người ta về cơ quan thì tai nghe, mắt thấy lúc họp, nhưng quay lưng đi là quên sạch, mặc cho dân tự xoay xở với khổ đau của mình.

Cách làm này không hề xứng đáng, cũng không công bằng. Bồi thường rẻ mạt, cưỡng chế ép buộc, bỏ ngoài tai tiếng kêu cứu của dân. Chúng tôi không đòi hỏi gì hơn ngoài quyền được sống trên chính mảnh đất của tổ tiên mình, được làm ăn lương thiện và nuôi sống gia đình bằng mồ hôi công sức của chính mình.

Tôi không phải là không có quy định hay vô chủ. Đây là tài sản của chúng tôi, các anh không có quyền tự ý can thiệp. Khi thấy sự việc xảy ra, tôi đã chủ động tìm hiểu pháp luật, so sánh với nhiều tỉnh thành khác. Ở những nơi đó, người ta nói rất rõ: có những trường hợp mượn danh nhà nước để làm việc không đúng bản chất. Đất bị thu hồi rồi đem bán cho tư nhân, trong khi việc bồi thường lại không hề tương xứng với tài sản thực tế trên đất của người dân.

Nếu thật sự là vì lợi ích chung thì phải đền bù đúng, đủ, công bằng. Còn ở đây thì không có gì như vậy cả. Tôi đã nói rõ trong các buổi họp: giả sử tôi có con gà, anh có con bò, tôi đề nghị đổi — tôi lấy bò, anh lấy gà — anh có chấp nhận không? Không ai ngu đến mức chấp nhận sự trao đổi bất công như thế. Nhưng tiếng nói của người dân thì lại bị phớt lờ hoàn toàn.

Người ta chỉ biết lo cho lợi ích của mình, tích lũy tiền bạc cho con cháu, còn dân thì bị đẩy vào cảnh bần cùng. Đây không phải là chính sách, mà là hành vi moi móc, chiếm đoạt tài sản của người dân. Gia đình tôi làm lụng bao nhiêu năm mới có được mảnh đất này, cũng như bao gia đình khác. Một sào đất, nếu làm tốt, mỗi năm có thể mang lại 50 triệu, thậm chí hơn 100 triệu khi được mùa được giá. Vậy thì lấy gì để người dân chấp nhận mức bồi thường rẻ mạt?

Đất này không phải chỉ làm một năm rồi bỏ. Đây là đất canh tác cả đời, từ đời cha ông đến đời con cháu. Đất phù sa, đất màu mỡ, là kế sinh nhai lâu dài. Sống kiểu gì mà lại coi chuyện đó là chuyện nhỏ? Dù theo tôn giáo nào, đạo nào cũng dạy phải biết thương người, không được tàn phá tài sản của người khác. Ai cũng mong sống yên ổn, không ai muốn bị dồn ép đến đường cùng.

Người dân bức xúc là điều không tránh khỏi. Có người nói dân chỉ biết nghe mà không biết đấu tranh. Nhưng chúng tôi khác: hôm nay đã khó thì ngày mai càng phải lo xa. Chúng tôi đã nhiều lần trình bày tâm tư, nguyện vọng trong các buổi tiếp xúc, nhưng mọi thứ chỉ dừng lại ở việc “nghe”, rồi sau đó đâu lại vào đó. Không có giải quyết, chỉ có thúc ép thu hồi.

Các anh làm cán bộ thì có lương hàng tháng. Còn chúng tôi làm nông, không có đất thì lấy gì mà sống? Đây là tài sản do ông bà để lại, không phải của ai khác. Pháp luật có quy định thu hồi đất cho quốc phòng, đường sá, trường trạm — chuyện đó chúng tôi hiểu. Nhưng thu hồi để làm kinh tế mà gây bất lợi cho dân thì không thể chấp nhận.

Nếu thực sự vì dân, thì phải làm sao để dân sống được. Còn làm kiểu này thì chỉ khiến dân chết dần chết mòn. Đất là tài sản của dân, nhà nước chỉ đứng ra quản lý chứ không phải là chủ sở hữu tuyệt đối. Lấy đất của dân mà không cho dân con đường sống thì đó là đẩy dân vào ngõ cụt.

Chúng tôi đã nói, đã trình bày, đã chịu đựng rất nhiều lần. Nhưng càng nói thì việc cưỡng chế càng gấp gáp. Không ai chấp nhận việc kiểm đếm hay cưỡng ép khi quyền lợi không được đảm bảo. Đây không phải là chống đối, mà là bảo vệ tài sản hợp pháp và quyền được sống của người dân.

Chúng tôi đã nói đi nói lại rất nhiều lần, nhưng chẳng ai chịu lắng nghe. Nói xong thì họ làm ngơ, coi như không nghe thấy gì. Chúng tôi lên tiếng không phải vì tư thù hay chuyện cá nhân, mà vì cuộc sống, vì miếng ăn, vì áo mặc của cả gia đình, của cả cộng đồng. Không ai trong chúng tôi có thể bình tĩnh nổi khi mệt mỏi chồng chất, khi hàng trăm người kéo tới, toàn là những người hưởng lương nhà nước, áp tải và cưỡng chế chúng tôi như tội phạm.

Mức bồi thường đưa ra thì hoàn toàn không xứng đáng, vậy mà họ vẫn ngang nhiên làm. Thử hỏi, bao nhiêu con người đã đổ mồ hôi nước mắt suốt cả tuổi trẻ, từ khi còn thanh niên cho tới lúc đầu đã bạc, tay đã run, chỉ để giữ mảnh đất ấy. Vậy mà giờ đây, người ta muốn lấy đi từng tấc đất, chẳng khác nào cướp tài sản của dân, rồi sau đó lại quay sang vu cho chúng tôi cái mác “lười lao động”.

Chúng tôi có đất, nhưng chúng tôi không bán. Chưa từng bán và cũng không hề muốn bán. Đất là của gia đình tôi, của ông bà tổ tiên để lại. Thế nhưng rồi họ lại dựng chuyện, nói rằng người dân tộc lười biếng, bán đất ăn hết nên không còn đất sản xuất. Trong khi chính họ là những người đã thu hồi, lấy đi toàn bộ đất đai của chúng tôi.

Trong các tài liệu, sổ tay của các cơ quan, người ta luôn nói rằng đồng bào phải thay đổi tư duy, phải chăm chỉ lao động, đừng bán đất. Nhưng xin hỏi, đất đâu mà lao động, khi đất đã bị lấy hết? Chúng tôi hỏi, nhưng không ai trả lời. Họ chỉ nói cho xong rồi về, giữ lấy vị trí, giữ lấy đồng lương của mình.

Chúng tôi đã tìm hiểu luật pháp, không chỉ ở địa phương này mà ở nhiều nơi khác. Đất đai là tài sản của người dân, nhà nước chỉ đứng ra quản lý chứ không phải muốn lấy lúc nào thì lấy. Nếu thu hồi vì quốc phòng, an ninh, đường sá, trường trạm thì chúng tôi còn có thể chấp nhận. Nhưng ở đây, đất bị lấy để làm kinh tế, để giao cho doanh nghiệp, trong khi người dân thì chịu thiệt đủ đường.

Một sào đất mỗi năm có thể làm ra 50 triệu, thậm chí hơn 100 triệu nếu trúng mùa, được giá. Đó là nguồn sống lâu dài, cho cả đời con, đời cháu. Đất ấy màu mỡ, phù sa, gắn với cuộc sống của chúng tôi mấy chục năm nay. Vậy mà họ mang con số bồi thường vài chục triệu ra đặt lên bàn, bảo chúng tôi chấp nhận. Làm sao chấp nhận được?

Chúng tôi không sống nổi với mức bồi thường đó. Người làm nông nếu không có đất thì coi như hết đường sống. Chúng tôi không phải công nhân, không phải cán bộ ăn lương tháng. Không có đất là không có cơm ăn. Lấy đất của dân tức là đẩy dân vào cảnh chết đói, chết mòn, hôm nay không chết thì ngày mai cũng kiệt quệ.

Chúng tôi đã nhiều lần tiếp xúc, trình bày tâm tư, nguyện vọng, nhưng tất cả đều bị bỏ ngoài tai. Người ta nói xuống dân để lắng nghe, nhưng nghe xong thì chẳng giải quyết gì, chỉ nhanh chóng tiến hành cưỡng chế. Cán bộ thì có lương đều đặn, còn chúng tôi, nếu mất đất, lấy gì mà sống?

Chúng tôi là con người, không phải súc vật. Tài sản này do ông bà để lại, do chính tay chúng tôi gây dựng. Không ai có quyền chà đạp, chiếm đoạt. Nếu việc làm này tiếp diễn, thì không khác gì ép người dân vào con đường cùng: chết dần, chết mòn vì mất đất, mất kế sinh nhai.

Chúng tôi không phản đối phát triển, không chống lại nhà nước. Nhưng phát triển mà để dân đói, dân khổ, dân chết thì đó không phải là phát triển. Đất là sinh kế, là mạng sống của chúng tôi. Lấy đất mà không nghĩ tới đời sống người dân thì đó là điều không thể chấp nhận.

Tôi từng nói rõ trong các buổi làm việc rằng: giả sử tôi có con gà, anh có con bò, tôi đề nghị đổi – tôi lấy bò, anh lấy gà – thì thử hỏi anh có chấp nhận không? Không ai ngu đến mức chấp nhận một sự trao đổi vô lý như vậy. Vậy mà ở đây, người ta lại phớt lờ ý kiến của dân, sống một cách kỳ quặc, chỉ biết lợi ích cho riêng mình.

Những gì đang diễn ra không phải là minh bạch hay vì lợi ích chung, mà là moi móc, là chiếm đoạt tài sản của người dân. Đây là tài sản hợp pháp của dân, dân không đồng ý thì không ai có quyền lấy. Gia đình tôi và bao gia đình khác đã làm lụng đàng hoàng, một năm một sào đất có thể thu về 50 triệu đồng, nếu được mùa được giá còn hơn 100 triệu. Đất không phải chỉ để làm một năm rồi bỏ, mà là sinh kế lâu dài, là đất ông bà để lại cho con cháu, cả đời người, cả nhiều thế hệ.

Đó là đất phù sa, đất màu mỡ, gắn với cuộc sống của người dân bao chục năm nay. Không thể nào lấy kiểu áp đặt, cưỡng chế rồi gọi đó là đúng luật. Dù theo đạo nào thì cũng phải có lòng nhân, phải biết thương người, không thể đập phá hay tước đoạt tài sản của người khác. Ai rồi cũng mong được sống yên ổn, không bị dồn vào cảnh khốn cùng.

Người dân không phải không biết suy nghĩ. Có người chỉ biết hôm nay, nhưng chúng tôi thì phải lo cho ngày mai, ngày mốt, cho con cháu sau này. Khi dự án được đưa ra, người ta viện dẫn luật để áp đặt, trong khi chúng tôi không hề ăn cắp, ăn trộm của ai. Đất này không phải tự nhiên mà có, đây là đất tổ tiên để lại, Nhà nước chỉ quản lý chứ không phải sở hữu để muốn lấy lúc nào thì lấy.

Nếu thu hồi đất để làm công trình phục vụ cộng đồng, mang lại lợi ích thực sự cho dân thì dân sẵn sàng chấp nhận. Nhưng ở đây là thu hồi để làm kinh tế, mang lợi ích cho một nhóm, còn người dân thì chịu thiệt. Các ban ngành kéo nhau đi cưỡng chế, áp tải, bồi thường không tương xứng, dân phản ánh thì bị phớt lờ.

Chúng tôi đã nhiều lần tiếp xúc, trình bày tâm tư, nguyện vọng, nhưng không được giải quyết. Nói là xuống dân để lắng nghe, nhưng thực tế chỉ là hình thức, rồi nhanh chóng lấy đất. Trong khi cán bộ có lương hằng tháng, còn người dân làm nông, nếu không có đất thì lấy gì mà sống?

Chúng tôi không phải súc vật, không phải không hiểu biết. Đây là tài sản của chúng tôi, do ông bà để lại. Mở đường, làm trường, làm trạm thì dân có thể hiểu, nhưng lấy đất làm kinh doanh khiến dân mất sinh kế thì đó là đẩy dân vào chỗ chết dần, chết mòn.

Giá bồi thường đưa ra hoàn toàn không phản ánh giá trị thực tế. Nếu bán theo giá thị trường thì người dân đã bán từ lâu, không ai giữ đất đến mức này. Giá đất giảm chỉ là do thời điểm khó khăn, không thể vin vào đó để ép dân.

Người dân không hề lười lao động. Có đất thì mới lao động được. Lấy hết đất rồi lại nói dân không chịu làm ăn thì đó là vô lý. Trong các văn bản vẫn kêu gọi người dân mở rộng tầm nhìn, không bán đất, chăm chỉ lao động, nhưng khi đất bị thu hồi hết thì lao động bằng gì?

Chúng tôi đã tìm hiểu các quy định ở nhiều nơi. Nếu Nhà nước thu hồi rồi giao cho tư nhân thì phải bồi thường đúng, đủ cả đất lẫn tài sản trên đất. Đằng này không làm như vậy mà vẫn cưỡng chế.

Chúng tôi không chống đối vô cớ. Chúng tôi chỉ yêu cầu được tôn trọng, được đối xử công bằng, được bảo vệ tài sản hợp pháp của mình. Nếu cứ làm như hiện nay, thì đó không còn là quản lý nữa, mà là chiếm đoạt, là đẩy người dân vào đường cùng.



Tại Lào Cai:/sự bóp méo thông tin khiến người H"Mông bức xúc

 Tại Lào Cai:/sự bóp méo thông tin khiến người H"Mông bức xúc. 


 Chúng tôi đề nghị phía cơ quan báo chí dừng việc đăng tải và lan truyền các bài viết trên mạng xã hội, bởi nội dung phản ánh không đúng với thực tế. Người dân chúng tôi đã bị thu hồi hơn 50 héc-ta đất nhưng điều này hoàn toàn không được đề cập. Từ năm 2016 cho đến nay, chính quyền vẫn chưa có giải pháp giải quyết thỏa đáng, khiến hơn 20 hộ dân chịu thiệt hại nặng nề, mất đất sản xuất và không thể canh tác trong thời gian dài.

Trong khi đó, phía báo chí chỉ tập trung nói đến thiệt hại về uy tín và tài sản của Nhà nước, mà bỏ qua những mất mát thực tế của người dân. Vì vậy, chúng tôi yêu cầu chấm dứt việc đăng tải các bài viết sai lệch. Nếu tình trạng này tiếp diễn, chúng tôi sẽ gửi đơn khiếu nại lên cơ quan biên tập có thẩm quyền.

Những người dân tại Lào Cai là những người trực tiếp chứng kiến hậu quả của việc thông tin bị bóp méo. Câu chuyện này không đơn thuần là vấn đề của một địa phương, mà phản ánh một thực trạng rộng lớn hơn trong xã hội hiện đại, liên quan trực tiếp đến quyền lợi và sự công bằng.

Khi thông tin bị cắt xén hoặc định hướng sai lệch, tiếng nói của những cộng đồng yếu thế rất dễ bị che khuất. Cần nhìn nhận sâu hơn những tác động tiêu cực của sự thiếu minh bạch này, từ đời sống thường nhật của người dân cho đến trách nhiệm của chính quyền và vai trò của truyền thông trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ.

Theo các nguyên tắc đưa tin và báo cáo, thông tin cần được phản ánh chính xác, đầy đủ và đúng bối cảnh, không được bóp méo theo bất kỳ chiều hướng nào. Việc đưa tin sai sự thật có thể dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng và lâu dài.

Vào tháng 12 năm 2025, cộng đồng dân tộc thiểu số tại tỉnh Lào Cai đã bày tỏ mối lo ngại sâu sắc trước việc thông tin từ trung ương bị cho là không phản ánh đúng tình hình sinh sống và lao động của họ. Hơn 50 héc-ta đất – vốn là yếu tố cốt lõi gắn liền với đời sống và văn hóa cộng đồng – đã bị xâm chiếm nhưng không được nhắc đến.

Hệ quả trực tiếp là hơn 20 hộ gia đình mất tư liệu sản xuất, không còn đất để canh tác và duy trì sinh kế, khiến tình trạng nghèo đói kéo dài suốt từ năm 2016 đến nay. Nhiều người buộc phải từ bỏ nghề nông truyền thống, rời quê lên các đô thị lớn mưu sinh nhưng vẫn không thoát khỏi vòng xoáy khó khăn.

Trong suốt thời gian đó, chính quyền không đưa ra biện pháp giải quyết thỏa đáng. Truyền thông lại chỉ phản ánh các thiệt hại do thiên tai, mà không lắng nghe hay phản ánh đầy đủ nỗi khổ thực sự của người dân.

Sự thiếu sót này không chỉ làm gia tăng bất mãn trong cộng đồng, mà còn đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về tính minh bạch và trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi của các cộng đồng thiểu số trong bối cảnh xã hội hiện nay.

Những hệ lụy từ việc thiếu thông tin chính xác đang hiện hữu rõ ràng trong đời sống của người dân, cho thấy tính cấp thiết của việc thay đổi cách tiếp cận thông tin từ cả báo chí lẫn chính quyền. Đây không phải là trách nhiệm của riêng một cá nhân hay tổ chức nào, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội nhằm bảo đảm sự công bằng cho tất cả mọi người.



Thứ Năm, 25 tháng 12, 2025

Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên"

 Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" 


Đức tin được nhìn nhận như một hình thức phản kháng, một cuộc đấu tranh nhằm giành lấy quyền tự chủ cho Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" . Niềm tin ấy cho rằng đức tin cần đứng cao hơn quyền lực của nhà nước, đóng vai trò như ngọn hải đăng dẫn lối cho những ai trân quý tự do.

Thế nhưng, lý tưởng vốn soi sáng đời sống tinh thần ấy lại thường xuyên va chạm với thực tế khắc nghiệt, đặc biệt trong bối cảnh của Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" tại Việt Nam. Trong khi tại Hoa Kỳ, Tổng thống Trump từng thể hiện lập trường mạnh mẽ ủng hộ việc đặt đức tin lên hàng đầu trong thờ phượng, thì ở Việt Nam, tự do tôn giáo lại bị gắn chặt với những cơ chế kiểm soát và các biện pháp mang tính đàn áp, nhằm dập tắt mọi biểu hiện bất đồng. 

Câu chuyện này không chỉ phản ánh những trở ngại mà một cộng đồng tôn giáo cụ thể đang phải đối mặt, mà còn phơi bày một cuộc xung đột xã hội sâu rộng hơn – cuộc đối đầu dai dẳng với chủ nghĩa độc đoán. Trong quá trình tìm hiểu về Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" , chúng ta bắt gặp nhiều câu chuyện truyền cảm hứng về sự bền bỉ, cũng như những thách thức vượt ra ngoài ranh giới địa lý và chính trị. 

Tất cả những điều đó buộc chúng ta phải nhìn lại cách mình định nghĩa tự do và quyền tự chủ tinh thần. Lời kêu gọi không tôn thờ chính quyền mà hướng về đức tin từng được Tổng thống Donald Trump nhấn mạnh đã tạo nên sự cộng hưởng sâu sắc trong lòng những người đề cao tự do cá nhân và tự do tôn giáo. 

Lập trường ấy thể hiện một quan điểm triết lý rõ ràng: đặt niềm tin lên trên quyền lực nhà nước, đồng thời nhắc nhở về những quyền căn bản mà nhiều con người trên thế giới vẫn đang kiên trì bảo vệ. Trái ngược hoàn toàn, chính quyền tại Hà Nội lại áp đặt hàng loạt hạn chế nghiêm ngặt đối với sinh hoạt tôn giáo, đặc biệt nhắm vào các nhóm như Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" . 

Các cộng đồng này bị buộc phải tuân thủ những quy định hành chính mâu thuẫn trực tiếp với giáo lý và thực hành cốt lõi của họ. Những biện pháp đàn áp ấy không chỉ bóp nghẹt quyền biểu đạt cá nhân, mà còn làm xói mòn đời sống tinh thần phong phú – yếu tố từng nuôi dưỡng sự gắn kết và sức bền cộng đồng trong lịch sử của nhiều người Việt. 

Dù vậy, các tuyên bố chính thức từ phía chính quyền vẫn liên tục khẳng định cam kết bảo đảm tự do tôn giáo và tín ngưỡng. Tuy nhiên, những lời khẳng định đó lại hoàn toàn đối nghịch với ngày càng nhiều bằng chứng về các hành vi vi phạm và đàn áp mà các cộng đồng tín ngưỡng khác nhau đang phải gánh chịu. 

Chính sự mâu thuẫn này khiến những phát ngôn mang tính trấn an từ phía nhà nước thường bị xem là một trong những nghịch lý lớn của thời đại: công khai nói về tự do, trong khi âm thầm kiểm soát những niềm tin định hình đời sống con người.

Sau cùng, cuộc đấu tranh bền bỉ của Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" trước sự áp bức độc đoán đã đặt ra một câu hỏi căn bản: tự do thực sự là gì. Dù trên bề mặt, các nhà lãnh đạo có thể bày tỏ sự ủng hộ đối với tự do tín ngưỡng, thì những rào cản khắt khe áp lên người thực hành đức tin đã phơi bày rõ khoảng cách giữa lời nói và thực tiễn.

Câu chuyện của Hội Thánh "TL- Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên" không chỉ là minh chứng cho sự kiên cường, mà còn là lời kêu gọi khẩn thiết về tinh thần đoàn kết và hành động trước bất công, thôi thúc mỗi chúng ta cùng bảo vệ những quyền bất khả xâm phạm – nền tảng chung của nhân loại.





 

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2025

Chia sẻ:/trích nguồn:/"Tác giả: Quang Nguyên (VNTB)"

 Chia sẻ:/trích nguồn:/"Việt Nam thời báo"


 

LTS: Cách đây không lâu, chúng tôi đã đăng lại 3 bài viết từ Việt Nam Thời Báo về về lịch sử khu vực Tây Nguyên; các chính sách cưỡng chế đất, xóa bỏ lịch sử văn hóa, đồng hóa, phá vỡ buôn làng Tây Nguyên, phân biệt đối xử với người Thượng bản địa tại Việt Nam; căng thẳng chính trị và xã hội tại Tây Nguyên; và lịch sử đấu tranh của người Thượng.

Hôm nay, chúng tôi xin phép đăng lại bài 4 trong loạt bài của Việt Nam Thời Báo.

Bài 4: Chính sách di dân tai hại lên Tây Nguyên

Tác giả: Quang Nguyên (VNTB)

Chính sách di dân lên Tây Nguyên của chính quyền Việt Nam, đặc biệt trong các thập niên sau năm 1975, đã có nhiều tác động xấu đáng kể đến người dân bản địa và môi trường tự nhiên.

Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ những năm 1970 đã thực hiện các chương trình di dân các tỉnh đồng bằng đến vùng Tây Nguyên nhằm khai hoang, phát triển kinh tế, và củng cố an ninh vùng biên giới. Người Kinh được khuyến khích định cư ở Tây Nguyên để khai thác đất đai và phát triển nông nghiệp.

Các chương trình này có mục đích đưa Tây Nguyên trở thành một khu vực trù phú hơn về mặt kinh tế. Người dân bản địa Tây Nguyên vốn sinh sống trong vùng này lâu đời với mô hình kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp, dựa vào đất rừng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên không bị ảnh hưởng xấu.

Sau năm 1975 chính quyền Việt Nam đưa ồ ạt người Kinh, và theo sau là những người dân tộc khác, lên vùng cao nguyên có vị trí chiến lược quan trọng này. Chính quyền quảng bá chính sách di dân là cách để phát triển kinh tế khai thác tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, đất đai màu mỡ, rừng và du lịch. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng vấn đề an ninh và ổn định chính trị là một yếu tố quan trọng trong quyết định di dân.

Tây Nguyên là một khu vực địa lý chiến lược, biên giới với Lào và Campuchia, nhìn xuống đồng bằng nam phần, từng là nơi xảy ra nhiều biến động lịch sử, như các phong trào kháng chiến của người Thượng trong thời kỳ chống Pháp, Mỹ, và cả sau khi Việt Nam thống nhất. Các phong trào ly khai của người Thượng, đặc biệt là sự nổi dậy của nhóm FULRO (Front Unifié de Lutte des Races Opprimées) vào những năm 1960-70, khiến Tây Nguyên trở thành một khu vực nhạy cảm về chính trị và an ninh.

Chính sách di dân của chính quyền Việt Nam hiện thời hàm chứa một âm mưu thâm độc hơn là “pha loãng” mật độ dân cư của các dân tộc bản địa, và cả việc làm tước đi lịch sử, văn hóa, luật tục người dân bản địa  nhằm giảm thiểu nguy cơ nổi dậy hoặc phản kháng đối với chính quyền. Hiện nay số di dân nhiều gấp 5 lần dân bản địa.

Bằng cách tăng cường sự hiện diện của người Kinh, biến người Kinh thành nhóm dân tộc chiếm ưu thế về số lượng và quyền lực chính trị, kèm theo lực lượng an ninh quân đội cũng người Kinh làm chủ chốt, chính quyền dễ dàng hơn trong việc kiểm soát và quản lý khu vực. Mặc dù Đảng và chính quyền có thể không công khai thừa nhận việc pha loãng dân số người Thượng là một mục tiêu chiến lược, nhưng qua những chính sách và hành động cụ thể, có thể thấy rằng chính quyền ưu tiên việc duy trì kiểm soát và ổn định Tây Nguyên.

Việc kiểm soát an ninh trong buôn có phần gắt gao hơn trong làng người Kinh. “Về tổ chức chính quyền, đứng đầu mỗi buôn làng là một trưởng thôn, một phó trưởng thôn, một công an viên phụ trách công tác an ninh, một thôn đội trưởng phụ trách chỉ huy đội dân quân tự vệ.

“Để tăng cường công tác an ninh, mỗi buôn làng được chia thành các nhóm liên gia, mỗi nhóm liên gia khoảng 15 – 20 hộ gia đình, nhà nằm liền kề nhau, đứng đầu là nhóm trưởng liên gia. Ngoài ra, có một cán bộ của đội công tác đặc biệt do xã cử xuống làm nhiệm vụ phát động quần chúng bảo vệ an ninh – chính trị.…

“Về tổ chức đoàn thể, mỗi buôn làng đều có các đoàn thể chính trị bao gồm: Đoàn Thanh niên, đứng đầu là Bí thư, Phó Bí thư; Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, đứng đầu là Hội trưởng và Phó Hội trưởng. Các đoàn thể này có vai trò tổ chức quần chúng, là những cánh tay nối dài của Đảng và chính quyền trong việc triển khai các chủ trương chính sách phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ an ninh – chính trị buôn làng.” (*)

Gia tăng số lượng người di cư, quỹ đất dành cho các hoạt động truyền thống của người Thượng bị thu hẹp. Đất đai đã bị lấy để phân chia cho các hộ gia đình di dân, cũng như để phục vụ các dự án kinh tế lớn như các khu trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê, hồ tiêu,…) và các dự án phát triển cơ sở hạ tầng.

Khu công nghiệp khai thác quặng Bauxite cho đến nay vẫn là vết dao đâm sâu vào thịt người dân bản địa. Hàng ngày, dòng máu đỏ bauxite vẫn còn chảy, giết dần cao nguyên xanh tươi.(**)

Nhà báo Lê Phú Khải đã viết thư gửi tổng bí thư Nông Đức Mạnh ngày 18/03/2009, rằng:

“Vấn đề bauxite còn nguy hại gấp trăm ngàn lần cải cách ruộng đất, vì nó hủy diệt cả dân tộc ta như các nhà khoa học đã dự báo. Mười năm nữa sông Đồng Nai và những con sông khởi nguồn từ Tây Nguyên bị nhiễm bùn đỏ thì cả miền Trung, Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh lấy gì mà uống, những bà mẹ sẽ đẻ ra toàn quái thai.” (***)

Việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là rừng và nguồn nước, đã gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng. Các con suối và nguồn nước ngọt của người Thượng bị ảnh hưởng do các hoạt động khai thác nông nghiệp và công nghiệp quy mô lớn. Các công ty quốc doanh ngang nhiên chiếm độc quyền nguồn nước vốn từ bao đời là của người dân.

Nhận định người Thượng trở thành công dân loại 2 ngay trên chính quê hương của họ có cơ sở khi nhìn vào tình trạng hiện tại của các dân tộc bản địa Tây Nguyên. Bị kỳ thị, nghi ngờ và cũng vì trình độ văn hóa thấp, người Thượng bị coi là “lạc hậu” hay “chậm phát triển”. Người Thượng có rất ít có đại diện trong bộ máy chính quyền địa phương. Người Thượng bị đối xử kém, bị loại khỏi quyền lợi chính trị, kinh tế và xã hội mà lẽ ra họ phải được hưởng bình đẳng.

Người Thượng bị tước đoạt quyền sử dụng và sở hữu đất đai truyền thống do các chính sách di dân, đất đai và khai thác tài nguyên của chính quyền. Đất đai là yếu tố sống còn trong đời sống kinh tế, văn hóa. Mất đất, người Thượng mất đi phương tiện sinh sống và phải phụ thuộc vào những công việc ít ổn định hơn. Người Thượng phải đi làm thuê cho các chủ đất mới là người Kinh hoặc các công ty.

Không còn khả năng kiểm soát tài nguyên, như đất rừng và nguồn nước khiến người Thượng càng rơi vào tình trạng nghèo khó và bế tắc, đồng thời càng phụ thuộc vào các nhóm cư dân mới đến. Người Thượng có ít cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế mới hoặc các dự án phát triển, phần lớn vì họ thiếu kỹ năng, kém cạnh tranh, dẫn đến việc người Thượng buộc phải làm những công việc có thu nhập thấp và không ổn định.

Người Thượng thường có mức độ tiếp cận kém hơn với các dịch vụ giáo dục và y tế so với người Kinh và nhóm di dân khác. Chất lượng giáo dục tại các vùng của người Thượng thấp, nhiều trẻ em bỏ học do rào cản ngôn ngữ và điều kiện kinh tế khó khăn. Trong khi đó, các dịch vụ y tế công cộng tại các khu vực của người Thượng Tây Nguyên thiếu thốn đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa. 

Xung đột và đàn áp

Chính sách di dân lên Tây Nguyên dành ưu tiên cho người Kinh, và các nhóm di cư khác cùng việc người Thượng  đang mất dần quyền kiểm soát quê hương đã nảy sinh những cuộc biểu tình và xung đột liên quan đến vấn đề đất đai, quyền tự trị và bảo vệ văn hóa của người Thượng vẫn tiếp diễn trong suốt nhiều năm qua. Các cuộc biểu tình của người Thượng, khi phản đối chính sách đất đai hoặc các vấn đề về tài nguyên, và tôn giáo sau này thường bị dẹp tan bằng các biện pháp cứng rắn, kể cả đàn áp vũ trang của quân đội và công an.

Tác giả: Quang Nguyên (VNTB)"




Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2025

Chia sẻ:/và trích nguồn:/ACAT"Pháp"

 Chia sẻ:/trích nguồn:/"ACAT"


Ngày 28 tháng 11 năm 2025, Y Quynh Bdap, một nhà bảo vệ nhân quyền, một tín đồ Cơ Đốc giáo tận tâm và là người đồng sáng lập tổ chức Mountaineers Stand for Justice (MSFJ), đã bị chính quyền Thái Lan cưỡng chế dẫn độ về Việt Nam mặc dù ông được Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn (UNHCR) công nhận quy chế tị nạn.   Kể từ khi được chuyển giao về Việt Nam, chính quyền Việt Nam không công bố bất kỳ thông tin nào về tung tích hay tình trạng của ông.  

Y Quynh Bdap là ai? 

Y Quynh Bdap là đồng sáng lập của Tổ chức Người Dân tộc thiểu số đấu tranh vì công lý (MSFJ), một tổ chức được thành lập năm 2019 nhằm bảo vệ quyền lợi và tự do tôn giáo của người dân tộc thiểu số Montagnard. Người Montagnard là dân tộc thiểu số sống ở vùng cao nguyên miền Trung Việt Nam, thường theo đạo Thiên Chúa, và phải đối mặt với sự đàn áp từ phía chính quyền vì văn hóa và tôn giáo của họ. MSFJ thực hiện công việc quan trọng là ghi nhận các hành vi vi phạm nhắm vào các dân tộc thiểu số và tôn giáo này ở Việt Nam. 

Y Quynh Bdap buộc phải rời Việt Nam vì hoạt động đấu tranh của mình và đã sống ở Thái Lan từ năm 2018. Ông được UNHCR công nhận là người tị nạn và đang chờ được tái định cư.  

Tháng 1 năm 2024, chính phủ Việt Nam đã tuyên bố MSFJ là “tổ chức khủng bố” và kết án vắng mặt Y Quynh Bdap 10 năm tù sau một phiên tòa lưu động không đảm bảo các điều kiện cần thiết cho một phiên tòa công bằng. Theo Liên Hợp Quốc, việc áp dụng luật này  cấu thành hành vi sử dụng và lợi dụng chính sách chống khủng bố một cách phân biệt đối xử  nhằm mục đích đàn áp người dân tộc thiểu số Montagnard và các nhóm thiểu số tôn giáo. Do đó, bản án này là một phần của bối cảnh đàn áp rộng hơn đối với người Montagnard, dường như đang ngày càng gia tăng. 

Sự trở về bắt buộc trong bối cảnh đàn áp xuyên quốc gia.  

Vào ngày 11 tháng 6 năm 2024, sau khi bị kết án, Y Quynh Bdap đã bị nhà chức trách Thái Lan bắt giữ để phục vụ phiên điều trần dẫn độ.  

Sau vụ bắt giữ này, Liên Hợp Quốc  đã kêu gọi chính quyền Thái Lan cảnh báo về nguy cơ tra tấn, giam giữ tùy tiện và  vi phạm nguyên tắc không trục xuất người tị nạn  mà việc dẫn độ sẽ gây ra. Họ thúc giục chính quyền Thái Lan từ chối bất kỳ hành động hồi hương cưỡng bức nào.  

Bất chấp lời kêu gọi từ Liên Hợp Quốc và các tổ chức xã hội dân sự, Tòa án cấp cao Bangkok đã ra lệnh dẫn độ ông Y Quỳnh Bđap vào ngày 30 tháng 9 năm 2024. Phán quyết này đã được giữ nguyên trong phiên phúc thẩm ngày 26 tháng 11 năm 2025. Ngày 28 tháng 11 năm 2025, ông Y Quỳnh Bđap bị cưỡng chế đưa trở về Việt Nam mà không hề thông báo cho gia đình hay luật sư của ông. Việc chuyển giao chỉ được xác nhận vào ngày 29 tháng 11 năm 2025. Kể từ đó, chính quyền Việt Nam không cung cấp bất kỳ thông tin nào về nơi ở hay tình trạng sức khỏe của ông.

Vi phạm nhân quyền 

Bằng việc trả lại một cá nhân về một quốc gia nơi họ có nguy cơ bị tra tấn, giam giữ tùy tiện và các hình thức ngược đãi khác, Thái Lan đã vi phạm nguyên tắc không hồi hương, cấm trả lại một người về một quốc gia nơi họ có nguy cơ bị tra tấn, cũng như Công  ước chống tra tấn và các hình thức đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm khác , mà Thái Lan đã tham gia từ ngày 2 tháng 10 năm 2007. Việc hoàn toàn thiếu thông tin kể từ khi họ được chuyển giao cũng làm dấy lên lo ngại rằng họ có thể bị cưỡng bức mất tích, vi phạm  Công ước quốc tế về bảo vệ tất cả mọi người khỏi bị cưỡng bức mất tích , mà Thái Lan đã gia nhập vào ngày 14 tháng 5 năm 2024. Tình huống này cũng làm dấy lên những lo ngại nghiêm trọng theo Công  ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị , đặc biệt là liên quan đến việc cấm giam giữ tùy tiện. 

Hơn nữa, Luật Phòng chống và trấn áp tra tấn và cưỡng bức mất tích năm 2022 của Thái Lan nghiêm cấm rõ ràng mọi hành vi trục xuất, hồi hương hoặc dẫn độ khi có căn cứ nghiêm trọng để tin rằng người đó có nguy cơ bị tra tấn hoặc cưỡng bức mất tích. 

Việc dẫn độ bà Quynh Bdap sang Việt Nam là hành động vi phạm trực tiếp luật pháp quốc gia và luật quốc tế của Thái Lan. 

ACAT-Pháp lên án hành vi vi phạm trắng trợn tất cả các công ước về nhân quyền, trái với các cam kết quốc tế về nhân quyền của Thái Lan.

Bối cảnh 

Trong nhiều năm qua, Thái Lan đã trở thành chiến trường cho nhiều hình thức đàn áp xuyên quốc gia khác nhau. Năm 2015, nhà xuất bản người Hoa gốc Thụy Điển Gui Minhai,  được tổ chức ACAT Pháp hỗ trợ , đã biến mất ở Thái Lan trước khi xuất hiện trở lại trong trại giam ở Trung Quốc – một ví dụ điển hình về việc cưỡng bức hồi hương và đàn áp xuyên quốc gia. Mười năm sau, chính quyền Thái Lan  đã cưỡng chế trục xuất 40 thành viên cộng đồng người Duy Ngô Nhĩ  sang Trung Quốc, bất chấp nguy cơ bị bức hại nghiêm trọng. Như vậy, Thái Lan hợp tác chặt chẽ với các quốc gia khác trong khu vực trong các hoạt động đàn áp nhắm vào các nhóm thiểu số và những người bảo vệ nhân quyền.  

Do đó, vụ việc của Y Quynh Bdap dường như là một phần của chiến dịch đàn áp xuyên quốc gia do Thái Lan khởi xướng cách đây vài năm. 

Lời kêu gọi từ cộng đồng quốc tế bị phớt lờ. 

Bất chấp sự huy động đặc biệt của Liên Hợp Quốc, tập hợp một liên minh các Báo cáo viên đặc biệt, các thành viên của Nhóm công tác về các vụ mất tích cưỡng bức và các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực tập trung vào tự do ngôn luận, quyền của người bản địa, bảo vệ người bảo vệ nhân quyền, các biện pháp bảo vệ tư pháp và đấu tranh chống lại các vụ hành quyết tùy tiện, Thái Lan vẫn tiến hành dẫn độ Y Quynh Bdap. Quyết định này, được đưa ra bất chấp các tuyên bố, thư tố cáo chung và những cảnh báo rõ ràng nêu bật những rủi ro nghiêm trọng về vi phạm nhân quyền, cho thấy một cách đáng báo động khoảng cách giữa các cam kết đã tuyên bố và hành động của chính quyền Thái Lan, củng cố nhu cầu cấp thiết phải vận động để lên án việc dẫn độ này là trái với luật pháp quốc tế. 

Lời kêu gọi hành động 

Căn cứ vào tất cả các yếu tố đã nêu trên, ACAT-Pháp kêu gọi chính phủ Thái Lan nhanh chóng tìm kiếm ông Y Quynh Bdap, đồng thời đảm bảo các biện pháp cần thiết để bảo vệ an toàn cho ông. Chúng tôi cũng kêu gọi chính phủ Thái Lan chấm dứt mọi sự hợp tác với Việt Nam trong các hoạt động đàn áp nhắm vào người tị nạn, người xin tị nạn và những người bảo vệ nhân quyền Việt Nam tại Thái Lan. 

Chính phủ Thái Lan phải tôn trọng đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế của mình, bao gồm nguyên tắc không trục xuất người tị nạn và Công ước chống tra tấn, cũng như luật pháp Thái Lan về phòng ngừa và trấn áp tra tấn và cưỡng bức mất tích, để những vi phạm như vậy không tái diễn.